Loại phân
Lượng phân bón theo tuổi cây (kg/cây/năm)
Cây 4-6
năm tuổi
7-10
năm tuổi
Trên 10
năm tuổi
Phân chuồng
30-50
50-70
70-100
Phân urê
0,3-0,5
0,8-1,0
1,2-1,5
Phân supe lân
0,7-1,0
1,5-1,7
2,0-3,0
Phân clorua kali
0,5-0,7
1,0-1,2
1,2-2,0
- Cách bón:
+ Bón phân hữu cơ: Đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng 30-40 cm, sâu 30-35 cm, rải phân, lấp đất và tưới nước giữ ẩm. Ở lần bón sau khi thu hoạch quả, có thể trộn đều các loại phân vô cơ và bón kết hợp cùng với phân chuồng.
+ Bón phân vô cơ: Khi đất ẩm chỉ cần rải đều phân trên mặt đất theo hình chiếu của tán, sau đó tưới nước để hòa tan phân. Khi trời khô hạn cần hòa tan phân trong nước để tưới hoặc rải đều phân theo hình chiếu của tán, xới nhẹ đất và tưới nước.
- Bón phân qua lá: Để bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây có thể dùng hình thức bón phân qua lá. Ngoài sử dụng Urê 0,2% và Kalihydrophotphat (KH2PO4) 0,2-0,3%, có thể bổ sung các nguyên tố vi lượng như Bo, Zn bằng phun các dung dịch axit Boric, dung dịch Sunphat kẽm 0,1%. Thời gian phun tốt nhất là trước khi hoa nở để làm tăng tỷ lệ đậu và sau khi đậu quả làm hạn chế rụng quả non.
3.4. Phòng trừ sâu bệnh:
- Bọ xít: Ngắt các ổ trứng trên lá, diệt bọ xít khi cây có quả non, Phun Basudin 0,2% hoặc Diazinnon 0,04%; Dipterex 0,015-0,1%, Trebon 0,15-0,2% (Phun 2 đợt liền nhau cách nhau một tuần vào khoảng cuối tháng 4).
- Sâu tiện thân nhãn: Phải dùng dao nhọn khoét lỗ sâu có thể dùng gai mây hoặc sợi dây thép ngoáy vào trong lỗ kéo sâu ra hoặc bơm Politrin hay Sumicidin (0,2%) vào trong lỗ sâu, dùng nước vôi đặc quét lên thân cây không cho sâu trưởng thành đẻ trứng.
- Rệp sáp: Khi thấy rệp xuất hiện nên dùng Sherpa; Trebon hoặc Actara phun đều lên tán chủ yếu vào các chùm hoa, quả.
- Dơi: Bó các chùm nhãn trong giấy cứng, bao cói, mo cau, túi PE để bảo vệ quả.
- Rầy hại hoa: Dipterex 0,2% và Trebon 10 ND 0,15 - 0,2%.
- Dòi đục cành hoa: Phun bằng Monitor 0,2%, Trebon 0,15%.
- Bệnh sương mai (mốc sương): Phun Bordeau 1% hoặc Ridomil - MZ 0,2%, Anvil 0,2%, Score 0,1%, hoặc hỗn hợp Ridomil - MZ 0,2% + Anvil 0,2%. Phun 2 lần (lần 1: khi cây ra giò; lần 2: khi giò hoa nở 5-7 ngày).
- Bệnh vàng lá chết đứng do các nguyên nhân: Do nấm hại rễ; Do trồng quá sâu; Do mất cân bằng dinh dưỡng vì bón quá nhiều đạm. Cần phải bón cân đối đạm, lân, kali.
+ Xỉ than. Nếu trồng sâu cần cào bới đất ra. Nếu do nấm thì dùng BenlatC hoặc Rizocid lượng dùng 8-10 lít thuốc đã pha tưới vào gốc cây
Thu hoạch Nhãn
Khi vỏ quả chuyển từ màu nâu hơi xanh sang màu nâu sáng, vỏ quả hơi sù sì hơi dày chuyển sang mọng và nhẵn, bóc quả xem thấy hạt có màu nâu đen (trừ giống có hạt màu đỏ) thì có thể thu hoạch. Nên thu hoạch quả vào ngày trời tạnh ráo, vào buổi sáng và buổi chiều, tránh thu hoạch vào đúng giữa trưa khi trời quá nóng. Không cắt trụi hết cành lá của cây vì có thể ảnh hưởng đến khả năng nảy lộc vụ sau. Đối với những cây nhãn có tình trạng sinh trưởng khỏe hoặc đối với những giống chín sớm, cắt chùm quả có kèm theo một đoạn cành quả chỗ có lá mọc sít nhau. Đối với những cây nhãn có tình trạng sinh trưởng yếu hoặc đối với những giống chín muộn, cắt chùm quả không kèm theo lá của cành quả. Khi thu hoạch quả, nên có thang và sử dụng kéo cắt chùm quả để tránh gãy cành.
4. Cách phòng trừ bọ xít hại nhãn
* Diệt bọ xít qua đông: Bọ xít qua đông là nguồn sâu hại di chuyển sang mùa xuân. Cách diệt bọ xít qua đông như sau: Vào những ngày lạnh và tối trời, lấy vải bạt trải quanh tán cây, đồng thời rung mạnh tán cây, bọ xít do có tập tính giả chết sẽ co chân tự rơi xuống bạt, trời lạnh chúng chậm chạp, ta nhanh chóng cuốn bạt lại thu gom được bọ xít đem tiêu diệt hoặc làm món ăn.
Cần theo dõi mật độ bọ xít trên tán cây vải, nhãn, khi thấy mật độ bọ xít cao > 2-3con/m2, cần áp dụng biện pháp thủ công như trên để bắt.
* Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật: Nếu mật độ bọ xít vẫn cao (bọ xít ở nơi khác bay đến hoặc chúng cảnh giác bay đi khi rung cây nhiều lần) thấy xuất hiện bọ xít non nhỏ bằng hạt đậu đến khuy áo, lưng màu nâu, nâu hồng, linh động, cần tiêu diệt ngay. Dùng các loại thuốc hoá học nội hấp hay tiếp xúc mới ít độc hại với người và môi trường để tiêu diệt bọ xít.
* Cụ thể dùng một trong các loại thuốc sau: Actara 25EC; Sutin 5EC; Oshin 20WP; Cruiser plus 312,5PS; Curbix 100SC hoặc Gaucho 600FS, liều lượng 1,5gói/8-10 lít nước/100m2 tán cây. Khi bọ xít trưởng thành, sức kháng thuốc cao, cần phối hợp một trong các loại thuốc nội hấp trên với một loại thuốc tiếp xúc mạnh như: Sokupi 0,36AS; Aremec 36EC; Karate 2,5EC…, cộng thêm chất bám dính, phun vào chiều tối hoặc buổi sáng khi nhiệt độ ngoài trời còn mát, lúc mới khô sương.
5. Phòng trị một số loại bệnh trên Nhãn
5.1. Bệnh cháy lá:
a. Triệu chứng:
Bệnh hại chủ yếu trên lá, nhất là các lá già, lá thành thục. Vết bệnh lúc đầu là những chấm nhỏ ở giữa hoặc đầu lá màu nâu đen, về sau vết bệnh lớn lên có hình tròn hoặc gốc cạnh, lan rộng trến phiến lá tạo thành những mảng cháy màu nâu, trên đó có những đường vân màu nâu xám nhạt. Giữa vết bệnh và phần xanh của vết bệnh có ranh giới rõ rệt. Trên vết bệnh lâu ngày có những hạt nhỏ li ti màu đen là các ổ phân sinh bào tử. Lá bị bệnh vàng khô và rụng.
b. Tác nhân gây hại và điều kiện phát sinh phát triển
Tác nhân gây hại là nấm Pestalotia paraguariensis, thuộc nhóm nấm bất toàn.
Nấm hình thành phân sinh bào tử hình ống, gồm 5 tế bào giữa lớn và có màu nâu, 2 tế bào ở hai đầu nhỏ, hơi nhọn và không màu, có 2-3 sợi lông ngắ ở một đầu. Nấm ký sinh yếu nên thường phát triển và gây hại trên các lá già, vườn ít chăm sóc và sinh trưởng kém.
c. Biện pháp phòng trừ:
Sau mỗi đợt thu hoạch, tiến hành cắt tỉa cành, thu gom và tiêu hủy các lá bị bệnh. Tưới nước, bón phân đầy đủ cho cây, nhất là phân hữu cơ, cây sinh trưởng phát triển tốt sẽ hạn chế được bệnh. Phun phòng trị bệnh bằng thuốc gốc Mancozeb theo liều lượng khuyến cáo.
5.2. Bệnh phấn trắng:
a. Triệu chứng
Hoa bị xoắn vặn, khô cháy, trái non bị nhiễm bệnh sẽ nhỏ, có màu nâu. Vỏ trái bị đóng phấn trắng nhất là ở vùng gần cuống. Trái lớn hơn nếu nhiễm bệnh thường bị thối nâu từ cuống trái sau đó chuyển sang màu nâu đen và lan dần đến nguyên trái.
b. Biện pháp phòng trừ:
Vườn thoáng, ánh sáng xuyên qua được tán lá sẽ hạn chế sự phát triển của bệnh. Phòng trị bệnh bằng cách phun các loại thuốc hóa học như Benomyl, Topsin M, Tilt, hay Nustar ... nồng độ theo khuyến cáo.
Để phòng ngừa bệnh và phòng trị có hiệu quả có thể phun thuốc vào giai đoạn trước khi trổ hoa và ngay.
5.3. Bệnh thối bông:
a. Triệu chứng
Bệnh khô cháy hoa thường xuất hiện vào lúc hoa nhãn đang nở rộ, trên cánh hoa có những vết chấm nhỏ bằng đầu kim, có màu nâu đen làm hoa bị vàng, sau đó khô và rụng đi. Nấm thường tấn công vào lúc có nhiều sương mù hay mưa nhiều, ẩm độ không khí cao.
b. Biện pháp phòng trừ
Nên trồng thưa giúp cây thoáng, cho ánh sáng xuyên qua tán cây làm giảm độ ẩm sẽ hạn chế được bệnh.
Phòng trị bằng các loại thuốc gốc đồng hoặc Benomyl, Bavistin theo khuyến cáo vào giai đoạn trước khi hoa nở để phòng bệnh
5.4. Đốm mốc xanh, mốc xám:
a. Triệu chứng
Trên lá nhãn còn bị các đốm mốc màu xanh, xám kích thước 1-3mm phát triển dày đặc trên mặt lábên trong có thể thấy lắm tấm các ổ nấm đen. Các đốm này có thể là do rêu hay địa y gây ra và thường không gây thiệt hại nhiều cho cây.
Ở các vườn nhãn lâu năm thường thấy trên thân cây có những đốm bệnh trắng loang lỗ như những đồng tiền. Tuy bệnh không gây nguy hiểm cho cây nhưng làm cho cây bị suy yếu dần.
b. Biện pháp phòng trừ:
Để phòng ngừa hiện tượng trên cần tránh trồng dày, tỉa cành cho thông thoáng. Phun các loại thuốc gốc đồng hay hỗn hợp thanh phèn - vôi theo tỷ lệ 1:1:100 sẽ hạn chế các đốm bệnh này.
5.5. Bệnh thối rễ:
a. Triệu chứng
Bệnh gây hại ở rễ và cổ rễ giáp mặt đất. Trên cổ rễ lúc đầu nhỏ màu nâu sau chuyển nâu đen và lan rộng bao quanh phân vỏ cổ rễ, vỏ bị thối khô, nứt và bong tróc ra để trơ phần gỗ phía trong. Nấm có thể ăn sâu vào thân làm thân bị khô đen, các rễ phía dưới cũng bị thối đen. Cây mới bị bệnh có biểu hiện sinh trưởng kém, lá bị vàng và rụng dần dần, cây còn nhỏ có thể bị chết khô hoàn toàn. Cây bệnh dễ bị đỗ ngã do bộ rễ đã bị hại.
b. Tác nhân
Bên cạnh nấm Fusarium, những nấm đất khác như Rhizoctonia, Sclerotium cũng có thể gây hại cho cây.
c. Điều kiện phát sinh phát triển
Nấm sản sinh ra hai loại bào tử là đại bào tử và tiểu bào tử. Đại bào tử có dạng dài, hai đầu nhọn, có dạng cong như lưỡi liềm, không màu, có 3-4 vách ngăn. Tiểu bào tử có hình trứng, không có hoặc có vách ngăn, không màu, nấm phát triển thích hợp ở điều kiện nhiệt độ là 30oC.
Bào tử tồn tại rất lâu trong đất, xâm nhập vào rễ cây hoặc cổ rễ qua các vết xây xát do bị gió lay hoặc côn trùng trong đất cắn phá, điều kiện đất cát dễ bị thiệt hại hơn so với điều kiện đất thịt.
d. Biện pháp phòng trừ
Thường xuyên kiểm tra vườn, phát hiện những cây sinh trưởng kém, kiểm tra cổ rễ, nếu có vết bệnh dùng thuốc gốc Metalaxyl hay Ridomyl Gold để tưới vào gốc, vun mô cao, thoát nước tốt, bón vôi vào cuối mùa nắng.
Cây bị bệnh cần đào bỏ hết gốc, rải vôi sát trùng.
Sử dụng phân hữu cơ và bón nấm Trichoderma.
5.6. Bệnh khô cành:
a. Triệu chứng
Bệnh chủ yếu gây hại trên cành. Vết bệnh lúc đầu hình bầu dục hoặc hình sợi dài, màu nâu về sau vết bệnh lan rộng ra và có màu nâu đỏ, hơi lõm vào trong vỏ, trên đó có các hạt nhỏ màu đen đó là các bào tử. Sau một thời gian vết bệnh tiếp tục lây lan quanh cành, vỏ chổ vết bệnh nứt ra và khô, lá trên cành bệnh biến vàng và rụng, cuối cùng cả đoạn cành phía trên vết bệnh bị chết khô.
Tác nhân gây hại và điều kiện phát sinh phát triển.
Bệnh do nấm Phoma sp. gây ra. Nấm chỉ hình thành phân sinh bào tử đơn bào, không màu, hình bầu dục.
Bệnh phát triển và gây hại trên cây nhãn lâu năm, ít được chăm sóc.
b. Biện pháp phòng trừ
- Chăm sóc đầy đủ cho cây sinh trưởng tốt. Bệnh có thể lây lan qua dụng cụ cắt tỉa, sau khi cắt tỉa và chuyển sang cây khác nên xử lý dụng cụ dao cắt.
- Chặt bỏ cành bị bệnh, tập trung tiêu hủy. Quét thuốc hoặc nước sơn vào các vết cắt để tránh nhiễm bệnh nơi vết thương.
- Bệnh phát sinh nhiều dùng thuốc Bordeaux và các thuốc gốc đồng, Zineb, Mancozeb để phun lên cành.
5.7. Bệnh đốm bồ hóng do nấm Meliola sp:
a. Triệu chứng
Bệnh gây hại chủ yếu ở mặt dưới lá. Đốm bệnh hình hơi tròn với viền không đều, kích thước 1-3mm, đen (màu càng sậm khi đốm bệnh càng to). Bề mặt đốm bệnh hơi sần sùi do nấm bồ hóng phát triển trên đó. Mặt dưới lá có thể có nhiều đốm nhưng các đốm này thường rời nhau. Cạo lớp bồ hóng đi bên dưới thấy mô lá bị thâm đen .
Nấm bồ hóng thường phát triển nhiều trên các vườn trồng quá dầy, tàn lá che rợp nhau và ẩm độ không khí cao.
b. Biện pháp phòng trừ:
Không nên trồng dầy, tỉa bỏ cành vô hiệu khi tạo tán sau thu hoạch giúp cây thoáng. Có thể sử dụng các loại thuốc gốc đồng để phòng trị bệnh nầy như Copper Zinc, Coc-85...ở nồng độ 0,2 %.
5.8. Bệnh thối trái do nấm(Phytophthora sp):
a. Triệu chứng
Bệnh này thường xuất hiện và gây hại nặng trên trái nhãn lúc nhãn sắp già, chín và đặc biệt là trong mùa mưa, nơi có ẩm độ cao thì bệnh phát triển và lây lan rất nhanh.
Do nấm Phytophthora thường lưu tồn trong đất nên các chùm trái gần mặt đất thường dễ bị nhiễm bệnh hơn trong mùa mưa từ đây sẽ là nguồn lây lan cho các chùm trái phía trên và lây lan sang cây khác trong cả vườn.
Trái bị bệnh thường bị thối nâu, lan dần từ vùng cuống trái trở xuống, làm trái nứt ra, thịt trái bị thối nhũn, chảy nước có mùi hôi chua và có thể thấy tơ nấm trắng phát triển trên vết bệnh.
b. Biện pháp phòng trừ
Để phòng trị bệnh này nên tỉa bỏ các cành gần mặt đất vì khi trái gần chín sẽ dễ nhiễm bệnh từ đất trong mùa mưa.
Cần lưu ý cắt bỏ và thu gom các trái bị bệnh rơi rụng trong vườn đem tiêu huỷ. Phun các loại thuốc như Ridomil, Aliette, các loại thuốc có gốc đồng theo liều lượng khuyến cáo. Nên trồng cây trên mô đất cao để giúp thoát nước tốt và tránh được mầm bệnh phát triển và tấn công. Bón phân hữu cơ và cung cấp nấm đối kháng Trichoderma để giảm mầm bệnh trong đất.
5.9. Bệnh thán thư (Colletotrichum gloeopsoriodes):
a. Triệu chứng:
Bệnh phát sinh và gây hại trên lá, lộc non, trên chùm hoa và quả.
- Trên lá: bệnh gây hại từ mép lá trở vào, lúc đầu vết bệnh như các chấm, đốm nhỏ, sau liên kết thành mảng lớn, xung quanh có đ ường viền nâu xẫm.
-Trên chồi non: lúc đầu vết bệnh dạng thấm n ước, sau chuyển màu nâu tối, chồi bị chết khô khi trời nắng hoặc thối khi trời mưa.
-Trên hoa và trái non: vết bệnh hơi lõm xuống kiểu chấm đen, làm hoa và quả non chuyển màu đen và rụng.
b. Tác nhân gây bệnh:
Bệnh do nấm Colletotrichum gloesporrioides gây ra.
c. Điều kiện phát sinh và phát triển của bệnh:
Bệnh phát sinh mạnh khi trời ấm và ẩm trong tháng 3 và 4. Trời có m ưa đúng vào thời kỳ ra hoa và hình thành trái non làm ảnh hưởng đến năng suất.
d. Biện pháp phòng trừ:
- Tỉa cành, tạo tán, thường xuyên cắt bỏ cành già tạo cho cây thông thoáng.
- Theo dõi vườn, khi thời tiết ấm và ẩm cần tiến hành phun thuốc: Bavistin 50 FL nồng độ 0,1%; Benlate 50 WP 0,1%. Lượng nước thuốc cần phun khoảng 600 - 800 l/ha.
5.10. Bệnh đốm rong (Cephaleuros virescens)
Bệnh phổ biến và gây hại khá nghiêm trọng trên lá nhất là những tháng mưa ẩm, những vườn rậm rạp, ít thông thoáng, chăm sóc kém.
a. Tác nhân gây bệnh:
Nguyên nhân do tảo Cephaleuros virescens gây ra.
b. Triệu chứng
Đốm bệnh có hình tròn lúc đầu nhỏ khoảng 3 - 5 mm, hơi nhô lên trên mặt lá do rong phát triển thành ung mịn, màu hơi vàng. Đốm bệnh tròn có thể phát triển hơn 1 cm. Khi đó đốm bệnh có màu nâu, giữa có phần màu vàng nâu (bào tử của rong).
c. Bệnh đốm rong trên nhãn do nấm
Mặt dưới của vết bệnh có màu nâu nhạt đến sậm do mô lá bị hoại, tuỳ mức độ tấn công của rong. Trên một lá có thể có nhiều đốm làm cho lá bị vàng và rụng sớm.
d. Biện pháp phòng trừ
Trồng cây với mật độ hợp lý, kết hợp với việc tỉa cành tạo tán giúp cây thông thoáng sẽ giảm bệnh đáng kể.
Phòng trị bệnh đốm rong bằng các loại thuốc gốc đồng Bordeaux, Copper B, Copper zinc, Coc-85, ....